Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Vô sinh do di truyền

(suckhoedoisong.vn) - Di truyền đóng vai trò quan trọng trong chức năng sinh sản ở nam và nữ. Các yếu tố di truyền tác động lên tất cả các giai đoạn của hệ thống sinh sản bao gồm: hình thành giới tính, quá trình sinh giao tử (trứng và tinh trùng), cũng như những giai đoạn đầu phát triển của phôi.

Các bất thường di truyền có thể chia thành 3 nhóm chính: bất thường nhiễm sắc thể về số lượng và cấu trúc, đột biến các gen liên quan đến chức năng sinh sản (như các gen nằm trên nhiễm sắc thể giới tính X/Y, hoặc các gen nằm trên nhiễm sắc thể thường), và bất thường đơn gen (như gen ty thể, gen điều hòa tính thấm qua màng xơ nang,…)

Tác động di truyền gây vô sinh ở nữ

Các nguyên nhân di truyền thường gặp nhất trong những trường hợp vô sinh ở nữ là bất thường về số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể và hội chứng đứt gãy nhiểm sắc thể X. Tuy nhiên tình trạng vô sinh ở nữ do nguyên nhân di truyền thường chiếm tỷ lệ thấp hơn so với nam.

Ở những gia đình có tiền sử sản khoa phức tạp (như sẩy thai liên tiếp, đặc biệt ở giai đoạn sớm hay những tháng đầu của thai kỳ, chết ngay sau sinh, trẻ sinh ra với nhiều dị tật bẩm sinh) thì nguyên nhân do bất thường nhiễm sắc thể gây ra chiếm tỷ lệ từ 5 - 15%.

 Cặp nhiễm sắc thể XY.Ảnh: TL

Có đến 5% trường hợp nữ bị mãn kinh sớm do mang nhiễm sắc thể X bị đứt gẫy. Hội chứng này là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra những tổn hại bẩm sinh cho sự phát triển tâm thần và đây là hội chứng điển hình ở các bé nam (từ mẹ truyền sang cho con trai). Với những bệnh nhân có triệu chứng mãn kinh sớm hoặc vô kinh nguyên phát có thể cho chỉ định làm các xét nghiệm di truyền phân tử phát hiện hội chứng đứt gẩy nhiễm sắc thể.

Tác động di truyền gây vô sinh ở nam

Các trường hợp vô sinh nam do nguyên nhân di truyền chiếm tỷ lệ 10 - 15% bao gồm rối loạn nhiễm sắc thể, đột biến DNA ty thể, rối loạn di truyền đơn gen, rối loạn di truyền đa yếu tố và bất thường di truyền dẫn đến rối loạn nội tiết. Sự bất thường di truyền được phát hiện ở những bệnh nhân nam bị thiểu tinh và vô tinh thường là những bất thường về số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể.

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, trong các nguyên nhân di truyền gây vô sinh ở nam thì bất thường nhiễm sắc thể chiếm khoảng 5 % (4% bất thường nhiễm sắc thể giới tính và 1% bất thường nhiễm sắc thể thường).          Các trường hợp do chuyển đoạn nhiễm sắc thể bao gồm chuyển đoạn 13/14 và các chuyển đoạn trên các nhiễm sắc thể 1, 3, 5, 6 hay 10. Các bất thường nhiễm sắc thể này có thể gây cản trở quá trình giảm phân, làm giảm khả năng tạo tinh trùng và có thể dẫn đến vô sinh.

Những bất thường di truyền ảnh hưởng đến khả năng tạo các kích tố sinh dục làm tăng khả năng vô sinh ở nam được chia làm 3 nhóm chính: Những rối loạn liến quan đến sự chế tiết và điều hòa của GnRH từ vùng dưới đồi do đột biến các gen nằm trên nhiễm sắc thể giới tính X; Những rối loạn nguyên phát của sự chế tiết và điều hòa của hai hormon sinh dục LH và FSH từ tuyến yên; Các rối loạn trong sự phát triển của tuyến yên.

Bệnh vô sinh ở nam còn chịu tác động của các rối loạn di truyền đơn gen. Có trên 50 loại di truyền đơn gen liên quan đến vô sinh nam, và một số trong đó đã được biết rõ.

Có hai gen quan trọng liên quan đến quá trình sinh tinh là gen thụ thể androgen nằm trên nhiễm sắc thể X và gen điều hòa tính thấm qua màng xơ nang nằm trên cánh dài của nhiễm sắc thể số 7. Nếu một trong hai gen này bị đột biến điểm sẽ dẫn đến quá trình sinh tinh bị thất bại. Khi gen androgen bị đột biến, thì người nam có bộ nhiễm sắc thể là 46,XY sẽ có kiểu hình bên ngoài của một người nữ (do estrogen từ tuyến thượng thận) và bên trong bất thụ (do chịu ảnh hưởng của AMDF, không có cơ quan sinh dục nữ ). Khi gen điều hòa tính thấm qua màng xơ nang bị đột biến sẽ dẫn đến bất sản bẩm sinh ống dẫn tinh hai bên chiếm tỷ lệ 2 - 6%.

 Tư vấn điều trị cho trường hợp hiếm muộn - vô sinh tại BV Phụ Nữ Đà Nẵng.Ảnh: Hải Hà

Một trong các tổn thương di truyền liên quan đến bệnh lý ở những bệnh nhân vô sinh nam là mất đoạn nhỏ trên cánh dài của nhiễm sắc thể Y. Ở những trường hợp tổn thương này 13% vô tinh, 1% - 7% thiểu tinh, 5 % tổn thương tinh hoàn nguyên phát với mật độ tinh trùng ít hơn 5 triệu/ml. Sự mất đoạn De novo trên nhiễm sắc thể Y là một trong những bất thường phổ biến nhất, góp phần làm tăng sự tái tổ hợp giữa các trình tự lặp lại trong quá trình giảm phân hoặc trong những giai đoạn phát triển sớm của quá trình tiền cấy phôi.

Ngoài những bất thường trong bộ gen, ở những bệnh nhân vô sinh nam còn gặp những bất thường ở DNA ti thể gây ảnh hưởng đến khả năng di chuyển của tinh trùng. Sự rối loạn di truyền đơn gen cũng có thể kích thích di truyền đa gen cùng với điều kiện môi trường bất lợi cũng là một trong những nguyên nhân di truyền gây vô sinh ở nam.

Tuy nhiên, trong tất cả các nguyên nhân di truyền thì nguyên nhân rối loạn di truyền do mất đoạn trên nhiễm sắc thể Y là nguyên nhân đặc biệt quan trọng vì nó có thể chuyển những bất thường di truyền cho thế hệ con cháu.

Việt An (Theo tài liệu của Bệnh viện Từ Dũ) 

Vệ sinh răng miệng khi mang thai

Trong quá trình mang thai do thay đổi về hooc môn, chế độ dinh dưỡng,… nên nhiều thai phụ thường gặp phải những vấn đề về răng miệng như: viêm lợi, sâu răng, mòn răng,… gây phiền toái khó chịu. Vậy, vệ sinh và chăm sóc như thế nào để bảo về răng ở phụ nữ mang thai là một việc làm hết sức cần thiết:

Nguyên nhân gây bệnh răng miệng

Do thời kỳ đầu của thai kỳ (tuần thứ 4 - 12 của thai kỳ) hầu hết thai phụ đều có cảm giác nghén có thể nôn và buồn nôn nên hay ăn vặt ngậm kẹo để giảm cảm giác nôn nao khó chịu, thậm chí có thai phụ ít đánh răng vì cứ đưa bàn chải vào miệng là nôn. Ngoài ra, các thay đổi sinh lý bao gồm cả sự thay đổi chế độ ăn như thèm ăn một số loại thức ăn đặc biệt như: bánh, kẹo, mía,… và thường xuyên ăn bữa phụ giữa các bữa ăn chính, điều này ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng dễ gây sâu răng.

Vệ sinh răng miệng khi mang thai 1
Ảnh minh họa

Đến các giai đoạn tiếp theo của thai kỳ, thai phụ cần một lượng canxi lớn hơn bình thường để cung cấp cho thai nhi nên lượng canxi trong cơ thể của người mẹ luôn bị thiếu hụt. Đây là một trong số các nguyên nhân khiến phụ nữ mang thai là những người có nguy cơ cao mắc nhiều bệnh về răng miệng. Do đó, nếu người mẹ không đủ canxi và không bổ sung được canxi qua ăn, uống thì khả năng thiếu hụt canxi sẽ nghiêm trọng, và bệnh đầu tiên gặp phải là các bệnh răng miệng.

Cần làm gì?

Để tránh cảm giác nôn khi chải răng thai phụ có thể sử dụng chỉ tơ nha khoa thường xuyên sau đó dùng nước muối pha loãng để xúc miệng. Thay đổi kem đánh răng các mùi vị khác nhau và bàn chải mềm hơn cũng là một biện pháp tốt.

Do thai phụ ăn nhiều bữa nên sau mỗi lần ăn cần súc miệng kỹ, có thể dùng nước muối ấm hay nước súc miệng dịu nhẹ để xúc miệng và chú ý là không được nuốt nước súc miệng.

Mặt khác cần thực hiện chế độ ăn đầy đủ và cân bằng chế độ dinh dưỡng giúp bảo vệ răng miệng như chế độ giàu vitamin C, A,... Đặc biệt là cung cấp đủ canxi cho cơ thể.

 Khi nào đến bác sĩ?

 Trong quá trình thai kỳ, nếu sưng lợi, chảy máu và gây đau … thì cần đến cơ sở y tế có chuyên khoa răng hàm mặt để được khám và điều trị. Vì trong một số trường hợp, viêm nướu lợi thai kỳ có thể gây ra periodontitis, một bệnh về lợi không chỉ ảnh hưởng tới nướu, răng, lợi mà còn ảnh hưởng tới chân răng và xương hàm (có thể gây ra tình trạng sinh non) sẽ nguy hiểm cho thai nhi.

Bác sĩ Nguyễn Long Hà


Thực chất về thuốc “giảm đau” trong chuyển dạ

(suckhoedoisong.vn) - Sử dụng Prostaglandin (thuốc thường dùng hiện nay là misoprostol) là một trong những phương pháp gây chuyển dạ để chấm dứt thai kỳ trong những trường hợp buộc phải đình chỉ thai non tháng (chết lưu, dị tật…). Tuy nhiên, thuốc cũng có thể gây nhiều tác dụng phụ nguy hiểm. Thực chất về tác dụng của thuốc “giảm đau” trong chuyển dạ là thế nào? Xin giới thiệu bài viết dưới đây để bạn đọc tham khảo.

Dùng dự phòng loét dạ dày tá tràng

Misoprostol là chất tổng hợp tương tự prostaglandin E1, có tác dụng ức chế tiết acid dạ dày và bảo vệ niêm mạc dạ dày. Vì vậy thuốc được chỉ định dùng để dự phòng loét dạ dày - tá tràng (do thuốc chống viêm không steroid, kể cả aspirin, ở những người bệnh có nguy cơ cao có biến chứng loét dạ dày như người cao tuổi, người có bệnh gây suy nhược, người có tiền sử loét dạ dày…). Cần phải dùng misoprostol trong suốt thời gian điều trị thuốc chống viêm không steroid. Do có tác dụng dự phòng nên misoprostol không có tác dụng đối với đau hoặc khó chịu dạ dày - ruột do sử dụng thuốc chống viêm không steroid.

Khi dùng với liều ngăn chặn tiết acid dạ dày, misoprostol có tác dụng làm lành vết loét dạ dày có hiệu quả như những thuốc đối kháng H2.  Tuy nhiên, tác dụng giảm đau do loét và lành loét tá tràng của misoprostol không được chắc chắn. Hiện nay thuốc này được dùng chủ yếu để dự phòng loét thường xảy ra trong khi điều trị dài hạn thuốc chống viêm không steroid.

 

 Cấu trúc hóa học của misoprostol.
Thuốc chống viêm không steroid ức chế tổng hợp prostaglandin, và sự thiếu hụt prostaglandin trong niêm mạc dạ dày có thể dẫn đến giảm tiết bicarbonat và dịch nhầy, có thể góp phần vào thương tổn niêm mạc do những thuốc này gây nên. Misoprostol có thể làm tăng sản xuất bicarbonat và dịch nhầy, nhưng ở người dùng liều 200microgam và cao hơn, cũng có tác dụng chống tiết. Do đó không rõ khả năng dự phòng loét dạ dày của misoprostol là kết quả của tác dụng chống tiết hay tác dụng bảo vệ niêm mạc, hoặc của cả hai tác dụng này.

Không được dùng misoprostol cho những người bệnh có tiền sử dị ứng với prostaglandin. Misoprostol có thể gây tiêu chảy tới 30% người bệnh ở liều điều trị uống. Ngoài ra, người bệnh khi dùng thuốc này có thể gây co cứng bụng, kích thích tử cung, chảy máu âm đạo… đây cũng là tác dụng phụ không mong muốn của thuốc và là nguyên nhân gây hạn chế sử dụng thuốc này.

Ở phần lớn người bệnh, những tác dụng phụ này phát triển trong vài tuần đầu điều trị và ngừng sau khoảng một tuần. Có thể làm giảm khả năng tiêu chảy bằng cách uống misoprostol cùng với thức ăn, vào lúc đi ngủ và tránh dùng cùng một lúc với các thuốc chống acid chứa magnesi. Vì những tác dụng không mong muốn này thường từ nhẹ đến vừa và hết sau ít ngày, đa số người bệnh có thể tiếp tục dùng misoprostol. Trong trường hợp những tác dụng đó kéo dài (quá 8 ngày) hoặc tiêu chảy nặng, co cứng cơ và/hoặc buồn nôn, cần phải mời bác sĩ.

Không dùng cho phụ nữ có thai

Misoprostol chống chỉ định đối với người mang thai bởi trong thời kỳ mang thai, dùng misoprostol có thể gây nguy hiểm cho thai nghén (có thể gây sảy thai) và do đó gây tổn hại cho thai. Misoprostol có thể gây co bóp tử cung, chảy máu tử cung và sảy thai. Sảy thai do misoprostol gây nên có thể không hoàn toàn. Trong những nghiên cứu ở phụ nữ được gây sảy thai theo ý muốn trong 3 tháng đầu, misoprostol gây sảy thai một phần hoặc toàn bộ ở 11% đối tượng và làm tăng chảy máu tử cung ở 41% đối tượng. Những tư liệu hiện có cho thấy misoprostol có khả năng sinh quái thai (nếu không sảy thai), bằng cơ chế có thể có liên quan với sự phá vỡ hệ mạch ở thai. Nếu một người mang thai trong khi uống misoprostol, cần phải ngừng dùng thuốc này và báo cho người bệnh biết về mối nguy hiểm có thể có đối với thai.

Ngoài ra, không được dùng đối với người có khả năng mang thai, trừ khi người bệnh cần phải được điều trị với thuốc chống viêm không steroid và có nguy cơ cao trong biến chứng loét dạ dày do sử dụng thuốc chống viêm không steroid, hoặc có nguy cơ cao phát triển loét dạ dày. Khi bắt đầu điều trị với misoprostol họ phải dùng một biện pháp tránh thụ thai hữu hiệu trong thời gian dùng misoprostol. Chưa xác định sự an toàn và hiệu lực của misoprostol ở trẻ em dưới 18 tuổi.

 Tư vấn sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên ở Trung tâm CSSKSS Hải Dương.   Ảnh: H. Hoa
Không sử dụng gây chuyển dạ cho thai phụ đủ tháng

Sử dụng misoprostol là một trong những phương pháp gây chuyển dạ. Thuốc có tác dụng rất tốt trong việc làm mềm, mở cổ tử cung và gây chuyển dạ, ngoài ra còn có tác dụng kéo dài tới giai đoạn 3 của quá trình chuyển dạ, có ảnh hưởng trực tiếp tới sự cầm máu sau đẻ. Tuy nhiên, khi dùng thuốc này có thể thấy nhức đầu, đau bụng, đầy hơi, khó tiêu, táo bón; buồn nôn, nôn; có nguy cơ gây vỡ tử cung và suy thai…

Đối với thời kỳ cho con bú, misoprostol không chắc được bài tiết vào sữa mẹ vì thuốc này chuyển hóa nhanh trong cơ thể. Tuy nhiên, không biết chất chuyển hóa có hoạt tính (misoprostol acid) có vào sữa hay không. Do đó, không được dùng misoprostol cho người mẹ cho con bú vì misoprostol acid gây tiêu chảy ở trẻ nhỏ.

Mới đây, Bộ Y tế đã có công văn số 5443/BYT - BMTE đề nghị Sở Y tế các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ sở sản khoa trên địa bàn không sử dụng misoprostol gây chuyển dạ trên thai phụ đủ tháng và thai sống vì nguy cơ vỡ tử cung và suy thai. Tuyệt đối không lạm dụng các thuốc tăng co tử cung để gây chuyển dạ. Đối với các trường hợp khác, ngoài việc tuân thủ các điều kiện, chỉ định, chống chỉ định, đánh giá trước khi gây chuyển dạ, cần phải theo dõi sát cơn co tử cung, tim thai, các tác dụng phụ, tiến triển của cuộc chuyển dạ để đánh giá, tiên lược và xử trí kịp thời…           

  Dược sĩ Hoàng Thu Thủy

Sinh giúp

Sinh giúp là sự hỗ trợ giúp sức cho sản phụ sinh trong giai đoạn sổ thai, bởi nhiều nguyên nhân mà trong giai đoạn này sản phụ rặn sinh không chuyển hoặc vì sức khỏe của người mẹ có bệnh lý đi kèm.

Đây là một thủ thuật nhằm hỗ trợ trong lúc sinh ngả âm đạo. Sinh giúp gồm có hai phương pháp đó là sinh giác hút và sinh forceps.

Tại sao phải sinh giúp?

Bình thường sản phụ bắt đầu bước vào giai đoạn chuyển dạ sinh thật sự, bác sĩ sản khoa sẽ tiên lượng khả năng của sản phụ có thể sinh ngả âm đạo. Quá trình chuyển dạ sẽ được theo dõi chu đáo bằng cơn gò tử cung, nhịp tim thai, sự xóa mở cổ tử cung và sự tiến triển của ngôi thai. Việc hoàn tất một cuộc chuyển dạ sinh gồm 3 giai đoạn. Ở giai đoạn hai là giai đoạn sổ thai, đây là giai đoạn quan trọng nhất, trọng đại nhất của người sản phụ sự cố gắng vượt bậc của người mẹ bằng các cơn rặn sinh kết hợp với cơn co của tử cung để tống xuất thai ra. Thời gian cho phép ở giai đoạn này chỉ kéo dài trong vòng 30 phút mà thôi, nếu thời gian mà kéo dài hơn nữa sẽ làm bất lợi cho thai nhi, trẻ sinh ra sẽ bị ngạt, điều này rất nguy hiểm hoặc trong những trường hợp bệnh lý, mẹ bệnh suy tim, bệnh hen suyễn, mẹ có vết mổ cũ nếu cứ để cho mẹ gắng sức rặn sinh, nguy cơ biến chứng bệnh lý mẹ sẽ nặng nề hơn nữa. Điều này cần phải đòi hỏi có sự giúp sức của thầy thuốc bằng cách giúp sinh nhằm tránh khỏi những bất lợi đến với mẹ và bé.

Sinh giúp là sự hỗ trợ giúp sức cho sản phụ sinh trong giai đoạn sổ thai

Sinh giúp được thực hiện như thế nào?

Hai phương pháp sinh giúp hiện nay được áp dụng cho hầu hết các cơ sở y tế có khoa sản và có bác sĩ chuyên khoa sản.

Phương pháp sinh giác hút: hay còn gọi là sinh vacuum bằng cách đặt một lực kéo lên đầu thai nhi qua trung gian một cái chén kim loại hay chén bằng silastic bám chặt lên đầu thai nhi dưới áp lực chân không. Dùng áp lực chân không bằng máy hút hay máy bơm bằng tay. Bác sĩ sản khoa sẽ dùng tay kéo nhẹ nhàng theo cơn gò tử cung kết hợp với sức rặn của người mẹ để kéo bé ra. Trong điều kiện đầu thai nhi đã lọt thấp, khi xác định đầu lọt +2 đến +3, khi mà ta nhìn mắt thường thấy tóc em bé lúc ta đưa tay vào khám âm đạo. Thời điểm kéo thai nhi khi đầu đã sổ ra hoàn toàn ta khóa máy hút lại, nắp đặt lên đầu thai nhi tự động bong ra và lúc đó tiếp tục cuộc đỡ sinh vai, sinh thân và chi dưới ra một cách dễ dàng.

Phương pháp sinh forceps: dùng dụng cụ kéo thai qua ngả âm đạo, bằng cách đặt một lực lên đầu thai nhi mà không gây sang chấn cho cả thai nhi và người mẹ. Bác sĩ sử dụng dụng cụ gọi là forceps, dụng cụ này gồm có 2 cành tách biệt nhau giống như thìa rỗng, khi đặt lên đầu thai nhi hai cành này sẽ khớp với nhau bởi một cái khóa. Khi đã khớp với nhau, bác sĩ dùng tay để kẹp, xoay và kéo em bé ra ngoài với điều kiện đầu thai nhi lọt thấp, cổ tử cung của người mẹ mở trọn mẹ rặn sinh kém. Bác sĩ thực hiện các động tác đặt cành forceps, kiểm tra hai cành đã khớp với nhau dùng tay kéo nhẹ nhàng theo cơ chế sinh của ngôi thai. Khi đầu thai nhi ra ngoài âm hộ thì ta sẽ tháo cành forceps và tiếp tục các thì đỡ sinh tiếp đó là sinh vai, sinh thân, hai chi dưới thai nhi sổ ra dễ dàng.

Những lưu ý khi sinh giúp

Đây là thủ thuật giúp sức cho bà mẹ trong quá trình sinh, do đó các nguyên tắc thực hiện thủ thuật phải đúng chỉ định, đủ điều kiện mới thực hiện làm thủ thuật nhằm tránh những tai biến do thủ thuật gây ra cho mẹ và thai nhi. Một khi không đúng chỉ định và không hội đủ điều kiện cho phép. Ta nên chấm dứt thủ thuật giúp sinh mà chỉ định mổ lấy thai là an toàn cho mẹ và thai nhi.

Các chỉ định sinh giúp: mẹ rặn sinh không chuyển, mẹ mắc các bệnh lý nội khoa, gồm bệnh lý về hô hấp (hen phế quản, lao, tâm phế mạn), bệnh lý tim mạch (tăng huyết áp, suy tim, các bệnh lý van tim) vết mổ sinh cũ.

Các chống chỉ định sinh giúp: ngôi thai bất thường, suy thai, thai chậm tăng trưởng trong tử cung, thai quá non tháng, mẹ có bệnh lý nặng không chịu đựng cuộc sinh, vết mổ cũ đau hoặc có tồn tại bệnh lý đi kèm như khung chậu hẹp...

Các điều kiện để sinh giúp: ngôi thai là ngôi chỏm, ngôi đã lọt thật sự ở mức +2 đến +3, cổ tử cung mở trọn hoàn toàn, ối đã vỡ, ước lượng cân thai dưới 3,5kg, nhịp tim thai ổn định dao động 120 - 160 lần/phút, sức khỏe mẹ ổn định không trong tình trạng cấp tính của bệnh lý đi kèm.

BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN

Chăm sóc sức khỏe sau sinh

Sinh xong phải kiêng khem gì, ăn uống, luyện tập thế nào để nhanh hồi phục vóc dáng và khi nào cần áp dụng các biện pháp tránh thai... là băn khoăn của không ít các bà mẹ trẻ sau sinh nở.

Sau khi sinh xong, chị em có thể sờ thấy khối cứng ở dưới rốn, đó chính là dạ con chưa thể co hồi lại như thời kỳ trước khi mang thai. Thường sau khoảng 3 - 4 tuần dạ con sẽ co lại gần như bình thường (trừ trường hợp mổ). Nếu dạ con không đàn hồi, co chặt lại có thể gây băng huyết, rong huyết. Để tránh điều này, nên đi lại nhẹ nhàng và cho con bú nhiều hơn. Sau sinh sẽ có rất nhiều sản dịch. Đây chính là máu ra sau sổ rau. Trong giờ đầu sau đẻ, lượng máu ra có thể lên tới 100ml nên cần phải đóng bỉm to, những ngày sau đó dùng băng vệ sinh bình thường và thường xuyên thay, rửa. Nếu thấy lượng máu ra quá nhiều, quá nhanh (như đái dầm), cần báo ngay cho bác sĩ bởi có thể bị băng huyết. Còn trường hợp ít hoặc không có sản dịch cũng cần lưu ý bởi không thoát được dịch, tử cung khó co lại dễ gây nhiễm trùng hậu sản, có người còn nhiễm trùng huyết, phải mổ thắt dạ con.

Chăm sóc sức khỏe sau sinh 1

Để tránh điều này, khi sinh xong chỉ nằm bất động trên giường 8-10 giờ (24 giờ với người sinh mổ), sau đó nên đi lại nhẹ nhàng. Tuy nhiên, ban đầu, cần ngồi dậy từ từ, hít thở sâu, nhắm mắt rồi chậm rãi đưa chân xuống đất trước khi đứng thẳng dậy. Nếu thấy chóng mặt, cần nằm xuống để máu lưu thông lên não, tránh hiện tượng choáng ngất, bị ngã. Đặc biệt, tránh để bị táo bón bằng cách ăn nhiều rau, trái cây, uống nước. Trong trường hợp bị trĩ, sản phụ có thể dùng thuốc bôi để đỡ đau.

Ngoài ra, phụ nữ ngay khi sinh xong có thể tập khít cơ niệu đạo, cơ âm đạo, tránh bị són tiểu sau này bằng cách: Khi hít vào thì co khít cơ âm đạo, từ từ thở ra đồng thời giãn cơ hoặc tập khi đang đi tiểu bằng cách nhịn lại 1-2 giây rồi thả ra, lặp lại vài lần. Trong trường hợp bị bí tiểu, sản phụ có thể chườm nóng, tắm nước nóng, day ở vùng xương mu, xoa nắn bụng...

Khoảng 3 - 4 tuần hết sản dịch, có người đã có máu trở lại (gọi là kinh non) và cần sử dụng các biện pháp tránh thai ngay. Việc có thai lại sớm rất nguy hiểm nhất là người mổ đẻ có thể gây nứt sẹo mổ, vỡ dạ con… Các bà mẹ sinh thường nếu phải rạch tầng sinh môn cũng cần chú ý đến vết khâu tầng sinh môn bằng cách rửa sạch, giữ khô, nếu dùng dung dịch vệ sinh nên dùng loại có bọt, có thể dùng máy sấy làm khô. Trường hợp sau 4 ngày bạn không thấy giảm đau, nhức nhối có thể bạn bị dị ứng chỉ khâu, nên đến bác sĩ để được cắt chỉ sớm hoặc xử lý nếu bị nhiễm trùng. Thường sau một tuần, vết khâu tầng sinh môn sẽ liền hẳn. Tùy cơ thể từng người, chị em có thể tắm gội sau vài ngày sinh nhưng không nên tắm bồn. Nếu mệt, bạn không nên tắm gội cùng một lúc và không đứng cúi lom khom sẽ dễ gây chóng mặt, ngã quỵ.

Sau sinh, đại đa số các bà mẹ bị mất máu nhiều, vì vậy cần được bồi dưỡng, ăn những thực phẩm giàu dinh dưỡng. Không cần phải kiêng khem quá nhưng nên ăn những thức ăn dễ tiêu hóa, tránh các gia vị ảnh hưởng đến sữa, hạn chế đồ lạnh, hải sản lạnh trong 6 - 8 tuần đầu sau sinh. Để có đủ sữa, ngoài việc tích cực cho con bú, các bà mẹ nên uống đủ 3 lít nước mỗi ngày (bên cạnh nước lọc có thể uống nước nhân trần, sữa đậu nành, nước quả, sữa tươi...).

Bác sĩ Bùi Phương


Chứng đau tức ngực khi mang thai

(suckhoedoisong.vn) - Nhiều phụ nữ gặp phải tình trạng bị đau ngực khi mang thai, hầu hết nguyên nhân đau tức ngực khi mang thai có liên quan đến những thay đổi bình thường của cơ thể và không nguy hiểm.

Nguyên nhân

Đau ngực khi mang thai thường là do thay đổi về thể chất của mẹ thích ứng với thai nhi phát triển. Các hormon thay đổi trong thai kỳ sẽ làm tăng lưu lượng máu và những thay đổi các mô ngực, điều này có thể khiến ngực bạn trông to ra, đau cứng và rất nhạy cảm khi chạm phải. Cảm giác đau tức ngực giống như bị đau ngực trước kỳ kinh nguyệt nhưng có xu hướng nặng hơn.

Từ tuần thứ 8 trở đi, ngực thai phụ bắt đầu to hơn và sẽ tiếp tục phát triển trong suốt thai kỳ. Với những người mang thai lần đầu, ngực sẽ to hơn rất nhiều. Nhiều trường hợp có cảm giác hơi ngứa như bị rạn da và thậm chí ngực cũng bắt đầu xuất hiện những vết rạn. Các mạch máu hiện lên trên ngực có thể nhìn thấy rõ ràng và lúc này bạn nên mặc áo ngực cỡ lớn  để có cảm giác thoải mái.

 Khám thai, hỗ trợ sinh sản tại Bệnh viện đa khoa Hoằng Hoá (Thanh Hóa). Ảnh: Duy Tuấn

Ngoài ra, có thể do trong thời gian mang thai người mẹ bị tức ngực và ợ nóng. Do hormon gia tăng trong thời kỳ mang thai nhằm duy trì niêm mạc tử cung, đồng thời làm mềm các dây chằng khiến thực quản co hẹp lại. Khi đó, axit dạ dày có thể trào ngược trở lại vào cổ họng và thực quản, gây mùi chua đặc trưng. Ngoài ra, thai nhi đang lớn ép cơ hoành và dạ dày cũng là nguyên nhân gây đau ngực có liên quan đến ợ nóng khi mang thai. Để giảm sự khó chịu trên, thai phụ cần ăn bữa nhỏ, tránh các loại thực phẩm nhiều gia vị. Tránh thức ăn có dầu mỡ. Uống nhiều nước. Chọn áo ngực phù hợp có thể làm giảm cơn đau.

Khi nào cần khám bác sĩ?

Nếu đau vú nặng, đau một bên vú, có kèm sốt thì nên đi khám ngay. Ngoài ra, khi có những dấu hiệu như: Đau ngực đột ngột, kèm ho hoặc khó thở; Cơn đau từ ngực lan xuống hai cánh tay; Đau ngực kèm sốt; Đau ngực kèm chóng mặt, khó thở, đổ mồ hôi bất thường… Những cơn đau như thế có thể cảnh báo bệnh ở tim, phổi, bắt buộc bạn phải đến cơ sở y tế để được thăm khám.  

  Bác sĩ Nguyễn Văn Tuấn

Món ăn tốt cho chị em bị nghén nặng

(suckhoedoisong.vn) - Nghén là triệu chứng hầu hết chị em gặp phải khi mang thai. Chị em thấy đau đầu chóng mặt, mệt mỏi, buồn nôn và nôn, có người nôn quá nặng đến mức không dám ăn uống gì, thường xảy ra vào buổi sáng sau khi thức dậy và sau mỗi bữa ăn. Nguyên nhân có thể do hormon từ nhau thai tiết ra khiến nội tiết của mẹ thay đổi và do ăn uống không hợp khẩu vị. Đa số thai phụ chỉ bị nghén trong ba tháng đầu, nhưng có người có thể kéo dài hơn. Xin giới thiệu một số món ăn - nước uống giúp giảm bớt sự khó chịu này cho chị em.

Nước mía:

Mía tím 300g, gừng tươi 5g. Mía tím nướng cho nóng, bỏ vỏ ép lấy nước. Gừng giã nhỏ cho vào nước mía quấy đều, chắt lấy nước bỏ bã chia 3 lần uống trong ngày, trước khi ăn 30 phút. Cần uống liền 3 - 5 ngày.

Nước ô mai: Ô mai 20 quả, gừng tươi 5g, đường đỏ 30g. Cho tất cả vào nồi, thêm 400ml nước đun sôi kỹ chắt lấy nước thuốc đặc, chia 3 lần uống trong ngày trước khi ăn 20 phút. Cần uống liền 3 - 5 ngày.

Me, sấu ngâm gừng: 

Quả me 200g, quả sấu 200g, gừng 10g, đường trắng 30g. Quả me, quả sấu cạo bỏ vỏ ngoài đem đồ chín, quả me bóc bỏ vỏ cứng. Gừng giã nhỏ trộn với đường, cho vào cùng quả me, sấu trộn đều, đường tan hết là được.

Cháo ý dĩ:  Ý dĩ 15g, gạo 100g, gừng 100g, đường đỏ 20g. Ý dĩ, gạo xay thành bột, gừng giã nhỏ cho vào nồi thêm nước đun trên lửa nhỏ cho sôi kỹ đến khi cháo chín nhừ cho đường đỏ vào quấy đều, cháo sôi lại là được. Ăn ngày 2 lần lúc đói, ăn nóng. Cần ăn liền 3 ngày.

Ảnh minh họa (nguồn Internet)
Canh sấu:

Sấu 5 quả (50g), sườn lợn 200g, bí xanh 100g, bột gia vị vừa đủ. Sấu cạo vỏ rửa sạch, sườn lợn rửa sạch chặt miếng ướp gia vị xào chín, cùng cho vào nồi thêm nước vừa đủ đun sôi kỹ. Bí xanh bỏ vỏ rửa sạch, thái miếng. Khi sườn đã nhừ cho bí xanh vào đun sôi lại là được. Trước khi ăn dầm nát sấu, ăn ngày hai lần lúc đói hoặc ăn với cơm. Cần ăn liền 3 ngày.

Canh me:  Cá trắm cỏ 1 khúc khoảng 300g, me, cà chua, rau cải trắng 100g, dầu ăn, bột ngọt, gia vị vừa đủ. Cá rửa sạch, bổ đôi ướp bột gia vị trong 20 phút. Quả me cạo vỏ ngoài, cà chua rửa sạch thái miếng, rau cải trắng rửa sạch thái nhỏ. Cho cá, cà chua, dầu ăn vào nồi xào, cho cà chua vào xào tiếp, dầm nát cà chua, đổ nước vừa đủ đun sôi thả quả me vào, đun tiếp khi quả me chín thì cho rau cải trắng vào đảo đều, canh sôi lại cho bột ngọt là được. Ăn ngày 1 lần lúc đói, cần ăn liền 3 - 5 ngày.

Lưu ý:

Khi mang thai, chị em cần ăn đủ chất dinh dưỡng, ăn các món dễ tiêu, chia thành nhiều bữa nhỏ, tăng cường rau xanh, quả chín, các loại đậu, sữa; kiêng các chất cay, nóng, rượu, cà phê, mỡ động vật, các món quay rán, thức ăn có nhiều gia vị dễ gây nôn, nghỉ ngơi hợp lý, thoải mái về tinh thần, tránh lo sợ, buồn bực. Nếu bị nôn quá nhiều khiến cơ thể gầy sút, mất nước và rối loạn điện giải… cần phải đến bệnh viện để được điều trị.

Lương y Đình Thuấn

Bạn quan tâm

Có thể bạn quan tâm

TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO nặng do cao huyết áp, anh Sơn đã lấy lại sức khỏe nhờ cách không thể đơn giản hơn!Nhờ biết cách này tôi đã hết SỎI MẬT mà không cần vào viện lần nữaTÓC BẠC 10 năm trở thành tóc đen, giải quyết vấn đề tận gốc40 tuổi bị THẬN HƯ khuyên người trẻ ít làm điều này tránh hối hận khi về già

Loading...

Bình luận

Bình luận của bạn về bài viết Món ăn tốt cho chị em bị nghén nặng

tin khác

Một số bài thuốc trị lao xương khớp

Ăn cho dáng đẹp

nội soi,răng sứ,răng giả

Hi hữu 4 chiếc răng sứ "chui" vào phế quản cụ ông 90 tuổi khi đang lắp răng

dị ứng sữa,tuyệt chiêu,uống sữa,tiêu chảy do sữa

Mách bạn 7 tuyệt chiêu ngừa tiêu chảy do dị ứng sữa

Ăn trứng vào buổi sáng tốt cho sức khỏe toàn diệnTrung Thu: thời tiết thuận lợi cho việc ngắm TrăngChăm sóc cơ thể lúc mới dậy thì6 bài rượu xoa bóp chữa đau mỏi gân xươngNhững lưu ý khi bổ sung vitamin

Nộm bưởi cho ngày bớt hanh haoBí quyết giúp gia tăng hương vị tình yêu“Tinh binh” có tốt như chị em đồn đoán?Thoát khỏi nỗi lo chi phí khi sinh con"Chúng tôi sẽ cung cấp cho Việt Nam và các quốc gia khác trong khu vực nhiều thuốc điều trị bệnh với giá hợp lý"

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

.head_tanga{color:#fff;padding:0} .head_tanga a{color:#fff;font-family:`robotoB`;font-size:13px} .border_tanga{border:none} .border_tanga .list_news_300 li{padding:3px 0} .border_tanga .list_news_300 li.first{padding-bottom:5px;margin-bottom:5px;font-size:12px;} .border_tanga .list_news_300 li.first .thumb120x90{float: left; width: 100px; height: 60px; margin-right: 10px;} .border_tanga .list_news_300 li.first .thumb120x90 img{object-fit:cover;height:100%;width:100%} .border_tanga .list_news_300 li.first .title_list_news_300{margin-bottom:5px;display:block;margin-top:0;color:#6db2dd;font-family:`roboto`} .border_tanga .list_news_300 li.first:after{display:table;clear:both;content:``} .border_tanga .list_news_300 li:last-child{margin-bottom:0;padding-bottom:0;} .bottom_partner{display:flex;align-items:center;justify-content:flex-end;padding:0;color:#999;font-style:italic;border-top:1px solid #ccc;background:#f2f2f2} .bottom_partner img{margin-left:7px}

7 cách thoát khỏi chóng mặt nhờ giảm stressChữa chóng mặt nhờ phương pháp massage kiểu ẤnĐừng chủ quan với cơn chóng mặt

Sản phụ khoa

Sinh giúp

Vô sinh do di truyền

Xuất huyết khi mang thai

Ung thư cổ tử cung

Ung thư âm hộ

Tra cứu sức khỏe

Sức khỏe người lớn

Sức khỏe trẻ em

Sơ cứu

Sức khoẻ tâm thần

Ẩm thực và dinh dưỡng

Sức khỏe và môi trường

Các biện pháp tránh thai

Sức khoẻ sinh sản và tình dục

Các thuật ngữ

Tìm hiểu cơ thể người

Dược

Thẩm mỹ

Trang phục

Rèn luyện

Ngôi nhà an toàn

Giải thích các xét nghiệm

Khám sức khỏe

Dinh dưỡng phòng chống ung thư

.head_unang{background:#1a5493;color:#fff;} .head_unang a{color:#fff;font-family:`robotoB`;font-size:13px} .border_unang{border:1px solid #458a37} .border_unang .list_news_300 li{padding:3px 0} .border_unang .list_news_300 li.first{padding-bottom:5px;margin-bottom:5px;font-size:12px;} .border_unang .list_news_300 li.first .thumb120x90{float: left; width: 110px; height: 80px; margin-right: 10px;} .border_unang .list_news_300 li.first .thumb120x90 img{object-fit:cover;height:100%} .border_unang .list_news_300 li.first .title_list_news_300{margin-bottom:5px;display:block;margin-top:0} .border_unang .list_news_300 li.first:after{display:table;clear:both;content:``} .border_unang .list_news_300 li:last-child{margin-bottom:0;padding-bottom:0;}

CẨM NANG BẢO VỆ SỨC KHỎE

6 sai lầm thường gặp của mẹ Việt khi tắm cho trẻ sơ sinh Bất cứ một sơ sẩy nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến bé trong những ngày đầu đời. Thế nhưng có không ít mẹ Việt đang “hàng ngày” mắc phải những sai lầm thường gặp khi tắm cho con, gây nguy hại đến sức khỏe của trẻ... “Chặn đứng” bệnh tim mạch ngay từ bây giờ bằng các xét nghiệm cơ bản Mách mẹ 6 cách sinh thường không đau

Đo chỉ số BMI

Tin thể thaokết quả bóng đá

ĐỌC NHIỀU NHẤT

Trần Danh Cường,Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương,Bổ nhiệm PGS.TS Trần Danh Cường,Bộ Y tế,Bộ trưởng Bộ Y tế,Vũ Bá QuyếtBộ Y tế bổ nhiệm PGS.TS Trần Danh Cường giữ chức Giám đốc Bệnh viện Phụ sản TWSKĐS - Theo quyết định của Bộ Y tế, PGS.TS Trần Danh Cường - Phó Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương sẽ giữ chức vụ Giám đốc Bệnh viện từ ngày 1/10/2018Phụ huynh bức xúc con tử vong, BV Chợ Rẫy khẳng định không điều trị saiChuyên gia bày cách hết ngứa ngáy do bệnh viêm da cơ địaNhững bộ lạc sở hữu khả năng kỳ lạ về sức khỏeNhững “tiết lộ” bất ngờ về tuyến tụy trong cơ thể con người

TRANG CHỦTIN THEO NGÀYTIN 24H QUA

Đặt SKĐS làm trang chủRSS

Văn hóaVui cườiẢnh m nhạcĐiện ảnhMỹ thuậtSân khấuSự hy sinh thầm lặngThể thaoVăn họcVượt qua bệnh tậtY học 360Bác sĩ trả lờiBệnh chuyên khoaBệnh người cao tuổiBệnh thường gặpMở rộng tầm nhìnTin y dượcBệnh mạn tínhCa bệnh đặc biệtThời sựBạn đọcThời luận - Lai raiChính trịKinh tế - xã hộiPháp luậtPhóng sựVăn bản - chính sáchY tếCác mẹ cần biếtDạy trẻPhòng bệnhSản phụ khoaThầy thuốc tư vấnCảnh giác thuốcDùng thuốc nên biếtViên thuốc tự sựSức khỏe cho mọi ngườiY học cổ truyềnBài thuốc dân gianCây thuốc quanh taGiới tínhBệnh lây truyền Món ăn – Bài thuốcNam họcPhòng theTâm sựKhỏe đẹp ++Mỹ phẩmThẩm mỹThời trangQuốc tếẢnhBình luậnTin tứcThế giới đó đâyPhòng mạch OnlineNhịp cầu nhân áiDinh dưỡngGóc chuyên giaHiến - ghép tạngCamera bệnh việnVideoTin thể thaokết quả bóng đá

Tổng biên tập: TTND.BS.Trần Sĩ Tuấn

Cơ quan chủ quản: Bộ Y tế

Giấy phép của Bộ Thông Tin và Truyền Thông - số 90/GP-BTTTT ngày 23/02/2016

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản

Địa chỉ: 138A Giảng Võ - Hà Nội

Điện thoại: (024) 3 846 1042 - Fax: (024) 3 844 3144

Số tài khoản: 116000000 237; Tài khoản USD: 118000202194

Ngân hàng TMCP Công Thương VN - Chi nhánh Ba Đình

MST: 0100108631

Cơ quan đại diện phía Nam: 213 Điện Biên Phủ, Q.3. TP.HCM – ĐT: (028) 3 822 9942

Fax: (84.28) 3 823 7593 - Email:skds@saigonnet.vn

Liên hệ nội dungbandientuskds@gmail.com

Đường dây nóng tiếp nhận các thông tin tố cáo tiêu cực: 0901727659

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

Liên hệ Quảng Cáo báo điện tửIMPACT MEDIA

Hotline: 0933 133 163

Skype:HongThuy.Tiffany - Email:QuangCao.SucKhoeDoiSong@gmail.com

Địa chỉ: Phòng 2515, tầng 25, Tòa nhà Euro Window, 27 Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội

Liên hệ Quảng Cáo trên báo giấy 111B Núi Trúc- Ba Đình- Hà Nội.

Fax: 024.37365634 - Hotline: 0913321467 - Email:quangcaosk@gmail.com

Báo giá quảng cáo báo giấy:Click vào đây để download báo giá

Liên hệ đặt báo giấy Sức khỏe & Đời sống 090 4969511

.stickyleft{width:120px; height:300px; position:fixed; top:5%;}

.stickyright{width:120px; height:300px; position:fixed; top:5%;}

Bí tiểu ở sản phụ sau sinh

(suckhoedoisong.vn) - Bí tiểu ở sản phụ sau sinh là một trong những biến chứng thường gặp, có khoảng 15% các bà mẹ sau sinh rơi vào tình trạ...